Saturday, January 9, 2010

Giáo sư 82 tuổi truyền ngoại ngữ bằng Thiền

Giáo sư 82 tuổi truyền ngoại ngữ bằng Thiền
Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font

Gửi lại phía sau hơn 40 năm trong nghề giáo, GS Lê Khánh Bằng về hưu với... "bục giảng ở nhà", đón học trò đến học ngoại ngữ không theo cách truyền thống: Học ngoại ngữ bằng phương pháp Thiền.

Không muốn ở ẩn với nếp sống nhàn tản, giáo sư (GS) đã biến căn nhà nhỏ tại tầng 4 khu tập thể Đồng Xa (Hà Nội) thành một giảng đường cho người thích học ngoại ngữ lui tới với phương pháp học đặc biệt mà đến giờ còn gây nhiều tranh cãi.

Học bằng những công thức “Thiền” kì lạ

GS Lê Khánh Bằng (Ảnh: N.T.H)


Khi nói đến Thiền, không ai không nghĩ đến một phương pháp học chủ yếu huy động về mặt tinh thần và ưa phần "tĩnh". Điều đáng nói ở phương pháp học mà giáo sư Lê Khánh Bằng đưa ra là dạy học tiếng Anh chỉ với vài động tác Thiền.

Thiền (tức tập trung) là một cách rèn luyện gồm những biện pháp thể dục và tâm lý, từ gốc Yoga, được một trường phái phật giáo của Trung Quốc kết hợp với phương pháp của Đạo Lão áp dụng sau đó truyền sang Việt Nam, Nhật Bản và ngày nay cũng được một số người châu Mỹ vận dụng.

GS Lê Khánh Bằng
- SN: 1927
- Nguyên là chủ nhiệm khoa Tâm lí giáo dục – Trường ĐH Sư phạm Hà Nội
- Chủ biên cuốn : Phương pháp tự học và hướng dẫn tự học ngoại ngữ có chất lượng và hiệu quả cao”
- Chỗ ở hiện tại: Phòng 402 A17 tập thể Đồng xa- Mai dịch - ĐT: 04-38341329)
Khi thiền ta phải ổn định hoạt động tâm thể bằng điều hoà hơi thở, trên cơ sở ấy, tập trung ý nghĩ vào những bộ phận nào đó của cơ thể, hoặc những giáo lý cơ bản, những vấn đề mình quan tâm.

Và việc học ngoại ngữ thông thường đều chỉ chú trọng vào 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết.

Tuy nhiên, để việc học ngoại ngữ thật sự có hiệu quả và người học sử dụng ngoại ngữ ứng dụng vào cuộc sống hàng ngày như ngôn ngữ mẹ đẻ thì cần tạo ra được vùng ngoại ngữ ở trong vỏ não. Tạo ra vùng ngoại ngữ bên trong vỏ não là một quá trình tập trung cao độ lâu dài hay còn gọi là Thiền.

Đã từ lâu người dân của khu tập thể nhỏ bé gọi ông giáo Bằng là "ông giáo Thiền". 82 tuổi, vậy mà ngày nào cụ bà cũng phải nhắc cụ ông rời bàn sách để nghỉ ngơi. Tất cả cũng chỉ tại ông đang làm cuốn sách: “Phương pháp tự học và hướng dẫn tự học ngoại ngữ có chất lượng và hiệu quả cao”.

Phương pháp học ngoại ngữ bằng Thiền đã được giáo sư Lê Khánh Bằng tổng hợp lại với những công thức gồm: 3T, 5B, 5C, 2H và 3V.

GS Bằng dạy học bằng phương pháp Thiền (Ảnh: Dân Trí)

3T
là tập trung gồm: 1.Thiền sự tập trung tư tưởng cao độ. 2. Tần số nhắc lại. 3. Tốc độ nhanh như người bản địa, có thể đọc một bài dài trong thời gian ngắn.

5B là 5 bước chuyển vào trong và 5 bước chuyển ra ngoài. Trong đó, 5 bước chuyển vào trong bao gồm:

Bước 1: đọc thật to để tạo nên một khu vực hưng phấn mạnh trong vỏ não và nhằm góp phần làm ức chế vùng tiếng mẹ đẻ. Đọc to, đúng như vậy từ 3 – 5 lần.

Bước 2: đọc to vừa, đúng ngữ điệu, tốc độ có thể nhanh dần lên. Đọc to vừa 3 – 5 lần hoặc hơn.

Bước 3: đọc mấp máy môi, có âm thanh và ngữ điệu phát ra nho nhỏ. Đọc 3 – 5 lần, tốc độ nhanh nhất có thể.

Bước 4: Đọc trong óc, còn gọi là đọc liếc hay đọc thầm. Lúc này môi không mấp máy, âm thanh không phát ra, nhưng bản thân người đọc vẫn cảm thấy âm thanh và ngữ điệu vang lên trong óc. Đọc như vậy nhiều lần, có thể từ 10 đến 100 lần, cho đến khi đọc thuộc lòng hẳn.

Bước 5: Đọc thuộc lòng trong óc nhiều lần( không nhìn vào bảng chữ cái như trong bước 4) để khắc sâu vào vỏ não.

5 bước chuyển vào trong bao gồm:

Bước 1: Đọc trong óc.

Bước 2: Đọc mấp máy môi.

Bước 3: Đọc to vừa.

Bước 4: Đọc to.

Bước 5: Vừa đọc vừa viết nhanh lên giấy.

5C là chất lượng đạt 5 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và suy nghĩ bằng ngoại ngữ. 2H là hiệu quả của việc học ngoại ngữ phải đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế xã hội và sử dụng tốt các nguồn lực.

Cuối cùng là 3V tương ứng với 3 vùng ngoại ngữ cơ bản, từ tối thiểu, phổ thông đến chuyên ngành. Đó là những nội dung cốt lõi và chủ đạo mà người thầy già muốn gửi gắm trong cuốn sách này.

Dạy cách suy nghĩ bằng ngôn ngữ khác

Thầy giáo bắt đầu buổi học với một động tác Thiền

Bắt đầu có ý tưởng từ những năm 1986, khi có buổi giảng dạy cho sinh viên trường Đại học Hà Nội về tâm lí giáo dục. Bản thân giáo sư với 6 thứ tiếng nhuần nhuyễn và ông thấy lạ khi có khá nhiều sinh viên của trường chuyên ngành hàng đầu về ngoại ngữ không tự tin giao tiếp bằng ngoại ngữ họ đang học. Điều ấy thôi thúc ông tập trung nghiên cứu vấn đề này.

Cuối cùng ông đã biết kết hợp mặt lợi của Thiền để nâng cao hiệu quả học tiếng của người học. Ông chính thức mở lớp học từ năm 1995 với nhu cầu cũng như mong muốn của những người theo học.

Ở lớp học của thầy Bằng, khi thầy giáo đề cập đến vấn đề gì hay chỉ vào những hiện vật trực quan cụ thể thì học sinh phát ra thứ đó bằng tiếng Anh ngay lập tức. Phân tích về vấn đề này, GS Bằng cho biết: “Tôi muốn người học phải tự suy nghĩ tiếng Anh ở trong đầu. Suy nghĩ bằng tiếng Anh nhanh chứ không phải nói mãi mới bật ra được. Tôi dựa trên những bước mà kết hợp từ tác dụng của Thiền với tư duy của trí não”.

Cho đến nay tuy sức đã yếu nhưng GS Lê Khánh Bằng vẫn chuyên tâm cho việc truyền bá những tri thức ông học được từ thiền cho người tham gia nhằm nâng cao kĩ năng về ngoại ngữ.

Đã 30 khóa học đi qua với hơn 500 học viên, lớp học ngoại ngữ bằng phương pháp Thiền luôn là điểm đến quen thuộc của những người yêu ngoại ngữ.

Khi nói về việc học tại nhà thầy Bằng, em Trần Đức Tuấn - học sinh lớp 11 trường THPT Việt Đức, nói: “ Ba mẹ định cho em đi du học nhưng vấn đề giao tiếp của em chưa ổn cuối cùng em đi học lớp của thầy Bằng thông qua người quen. Em thấy mình có nhiều tiến bộ nhất là ở kĩ năng nói. Thầy dạy có kỉ luật nên việc tập trung và tự rèn luyện phải cực kì cao mới được kết quả như thế”.

GS Bằng đã giảng dạy thành công khá nhiều thế hệ học trò trong đó có rất nhiều thạc sĩ, cử nhân có nhu cầu học tập tiếng Anh để phục vụ mục đích trong cuộc sống của mình. Hầu hết họ đều đánh giá cao phương pháp học này, tất cả đều do bản thân người học chứ không phải do thầy giáo. Người thầy chỉ là người bật nút và kích thích họ mà thôi.

GS Bằng miệt mài với những trang sách chỉ vì một điều thật hiển nhiên đó là: thực tế việc học ngoại ngữ của người trẻ vẫn còn kém lắm. GS bộc bạch: “Tôi thấy hạn chế nhất của các em chính là khâu giao tiếp. Các em vẫn còn chưa tự tin khi nói và nói vẫn còn chưa chuẩn”.

Cứ tuần tự vào sáng chủ nhật, chiều thứ hai, căn hộ gần 20m2 lại có khoảng 15 học viên đến học. Không khí bao trùm trong sự yên tĩnh tối đa người học không có chút vấn vương những chuyện xung quanh.

Những khúc quanh của đời người dạy học qua Thiền

GS Bằng với cuốn sách mới in của mình

GS Lê Khánh Bằng sinh ra ở mảnh đất Hương Sơn - Hà Tĩnh, mảnh đất của danh nhân và danh thắng. Gia đình thuộc nền nếp danh gia vọng tộc học hành tấn tới. Cụ thân sinh ra giáo sư cũng làm đến chức Tham tán bộ lễ trong triều đình nhà Nguyễn xưa.

Hơn chục tuổi giáo sư đã được gửi hẳn vào trường Quốc học Huế và học cùng những danh sĩ khắp cả nước. Tại đây ông đã được trau dồi những kiến thức căn bản của văn hóa phương Đông và có cơ hội tiếp thu những kiến thức của văn hóa phương Tây. Từ đấy những tố chất của ông được phát huy triệt để.

Năm 17 tuổi ông tốt nghiệp tú tài với bằng xuất sắc, ông ra Hà Nội tiếp tục học cử nhân rồi đi khắp nơi trên thế giới với 6 thứ tiếng uyên thâm. Đặc biệt giáo sư nói rất chuẩn ngôn ngữ Latinh, cụ thể là tiếng Bồ Đào Nha.

GS cho rằng: “Không chỉ có việc học ngoại ngữ cần phải tập trung cao độ mà ở các bộ môn chuyên ngành khác cũng phải như thế. Nếu không tập trung cao độ thì ắt hẳn sẽ khó khăn lắm mới có thể thành công”.

Khi dạy Thiền, giáo sư cũng chỉ mong người học tập trung để tạo được một vùng ngoại ngữ trong vỏ não và đó là mục đích cuối cùng của người dạy.

Để được người khác tin cậy bằng phương pháp học lạ, ông phải đứng trước rất nhiều nghi ngờ. Giáo sư đã phải viết sách và có những buổi thuyết trình trước những nhà khoa học để làm sáng tỏ hơn phương pháp dạy của mình.

GS nói: “Tôi không truyền bá kiến thức. Phương pháp dạy của tôi là cho người học biết hệ thống hóa những kiến thức đã học rồi tổ chức nó theo trật tự logic và đem vào cuộc sống để làm lợi cho cuộc sống từ chính những kiến thức đó”.

Lòng đam mê dạy học, dạy học là niềm vui đã tác động rất lớn đến suy nghĩ của giáo sư. Ông nói vui: "Tôi không muốn mình trở thành một ông già "quá đát" của cuộc sống!". Ở tuổi cổ lai hy, giáo sư vẫn muốn được đóng góp được "thêm chút nào hay chút đó" cho cuộc sống này.

Theo: tuanvietnam.vn

Chưa có bằng tiểu học, viết sách “best-seller”

Phùng Lệ Lý Hayslip: Chưa có bằng tiểu học, viết sách “best-seller”
Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font

Bà là Phùng Lệ Lý Hayslip, tác giả hai cuốn sách When Heaven and Earth changed places (Khi trời đất đổi thay) và The child of war, woman of peace (Đứa trẻ thời chiến, người phụ nữ thời bình) được dịch ra 17 ngôn ngữ khác nhau và bộ phim Heaven and Earth chuyển thể từ các tác phẩm này của bà đã chiếu nhiều nơi trên thế giới.

Cuối tuần qua, hai buổi chiếu phim Heaven and Earth (Trời và Đất) tại rạp Hanoi Cinematheque (Hai Bà Trưng, Hà Nội) đều chật khán giả. Đây là bộ phim thứ ba về chiến tranh Việt Nam (VN) của đạo diễn hai lần đoạt giải Oscar Oliver Stone. Một người phụ nữ VN trông thật mộc mạc ngồi chăm chú theo dõi bộ phim, thi thoảng cúi xuống, gương mặt lặng đi vì xúc động.

Bà là Phùng Lệ Lý Hayslip, tác giả hai cuốn sách When Heaven and Earth changed places (Khi trời đất đổi thay) và The child of war, woman of peace (Đứa trẻ thời chiến, người phụ nữ thời bình) được dịch ra 17 ngôn ngữ khác nhau và bộ phim Heaven and Earth chuyển thể từ các tác phẩm này của bà đã chiếu nhiều nơi trên thế giới.

Đưa đạo diễn Oliver Stone đến với Phật giáo

Phùng Lệ Lý Hayslip quê ở Đà Nẵng. Năm 15 tuổi, bà vào Sài Gòn sống với mẹ. Năm 1969, bà kết hôn với một người Mỹ, sau đó theo chồng về nước. Năm 1980, vượt qua nỗi lo sợ và ám ảnh bấy lâu giày vò về thân phận ly hương, bà quyết tâm trở về thăm mẹ. Hạnh phúc khi gặp lại mẹ và chứng kiến sự thay da đổi thịt trên quê hương, chuyến hồi hương thấm đượm nghĩa tình cùng với tình cảm bấy lâu ấp ủ nhen lên trong bà ý tưởng về một cuốn tự truyện.

Bà Phùng Lệ Lý Hayslip (giữa) trong một chuyến làm từ thiện tại Quảng Nam.

Với sự cộng tác của nhà văn Mỹ Jay Wurts, bà ghi lại những ký ức chiến tranh chưa phai mờ, từ khi còn là cô bé 13 tuổi đi chăn trâu, cắt cỏ ở làng quê; những ám ảnh về chiến tranh theo suốt cuộc đời đầy dâu bể của bà; những số phận chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến dù chiến tranh đã lùi xa...

Bà cũng dành khá nhiều trang viết thể hiện những nghĩ suy và chiêm nghiệm của mình về đạo Phật. Cuộc sống xa quê, nhiều niềm vui nhưng cũng không ít nỗi buồn. Bà tìm thấy những tư tưởng và triết lý của đạo Phật khi đi sâu nghiên cứu và thể hiện trên trang sách.

Cuốn sách đầu tiên ra mắt sau 4 năm bà về thăm quê và nằm trong “best seller list” (danh sách sách bán chạy nhất) theo xếp hạng của thời báo The New York Times. Cuốn sách được mua bản quyền chuyển thể thành phim. Bà và đạo diễn Oliver Stone trở thành bạn thân của nhau.

Để hình ảnh ngôi chùa và tượng Phật trong cuốn sách trở thành hình ảnh chủ đạo xuyên suốt bộ phim Heaven and Earth, bà đã đưa vị đạo diễn tên tuổi này đến với đạo Phật. Hai người thường đàm đạo về đạo Phật, trao đổi tài liệu, sách vở, rồi đi lễ chùa...

Có những ngày dài, Oliver Stone đắm mình trong không gian u tịch của ngôi chùa ở California. Có lẽ vì vậy, không ngạc nhiên khi cuối năm 2007, Oliver Stone xuất hiện ở Đà Nẵng với chiếc nón trắng và giới thiệu với báo giới tên là Minh Đức - pháp danh của ông...

Trong vai trò cố vấn kỹ thuật, bà đang cùng đạo diễn Oliver Stone thực hiện bộ phim thứ tư về đề tài chiến tranh VN mang tên Pinkville. Bộ phim nói về cuộc thảm sát Sơn Mỹ vào ngày 16-3-1968 - sự kiện gây chấn động cả thế giới. Bà giúp Oliver Stone chỉnh sửa kịch bản, tặng ông thêm tư liệu tham khảo về Mỹ Lai và chuẩn bị hơn 2 tấn đạo cụ là các nông cụ VN. Bộ phim này đã khởi quay trong năm 2008 tại Thái Lan.

Một trong 4 nhân vật Á Đông nổi tiếng ở Mỹ

Là người sáng lập và Chủ tịch tổ chức Làng Toàn Cầu, bà Lý và các cộng sự đã tổ chức không ít dự án về giáo dục và y tế hướng tới trẻ em ở những vùng quê nghèo, hẻo lánh ở một số nước châu Á, trong đó có VN. Bà còn thành lập tổ chức Đông Tây hội ngộ với hơn 6.000 hội viên, là những người có tấm lòng vì VN.

Dự án đang triển khai dự án Tủ sách lưu động với 2.000 đầu sách tặng một số trường học trên địa bàn tỉnh Quảng Nam... Số tiền quyên góp từ độc giả và các mạnh thường quân, tiền bản quyền sách, nhuận bút tác phẩm chuyển thể thành phim cùng với di sản thừa kế... giúp bà Lý thực hiện các công việc từ thiện và trang trải các dự án nhân đạo.

“Đất nước mình anh hùng, dân tộc mình thông minh, cần cù, chịu khó mà con em mình vẫn còn có người mù chữ. Tôi mong muốn nâng cao việc giáo dục và đào tạo con em ở trên chính đất nước mình để giáo dục con em trở thành công dân VN, biết yêu nước thương nòi” - bà Lý tâm niệm.

Bà Lý cho biết, cuộc đời bà vừa được tái hiện trong cuốn sách về tiểu sử về những nhân vật Á Đông nổi tiếng ở Mỹ. “Khi thấy tôi viết sách, rồi được mời đến nói chuyện ở một số trường đại học, có những phần tử cực đoan ở Mỹ miệt thị tôi là “đồ chăn trâu, biết gì đâu mà nói”. Tôi nói, tôi chỉ học lớp 3 trường làng nhưng tôi không vô học. Tôi tự học qua sách vở và học ở chính trường đời” - bà Lý bộc bạch.

Bà cho mình là người may mắn khi những cuốn sách ra đời được độc giả đón nhận và chúng có cơ hội lên phim, lại do một đạo diễn tên tuổi và tâm huyết với đề tài chiến tranh thực hiện. Những dự án nhân đạo ở VN được sự ủng hộ của cộng đồng và bước đầu phát huy ý nghĩa.

Trong lần giao lưu sau buổi chiếu phim ở Hà Nội, một cô gái trẻ ngỏ lời xin được dịch ra tiếng Việt cuốn sách When Heaven and Earth changed places. Bà Lý lặng đi xúc động. Hơn 20 năm nay, bà vẫn thầm ước ao những người dân quê bà sẽ đọc cuốn sách này. Mong sao cuốn sách này sớm ra mắt để thêm nhiều độc giả VN có thể sẻ chia với bà những nỗi niềm.

Theo: Sài Gòn Giải Phóng

Cụ bà 96 tuổi cung tiến 1000m2 đất xây chùa

Cụ bà 96 tuổi cung tiến 1000m2 đất xây chùa
Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font

Cụ Đặng Thị Lan ở thôn Vu Tử, xã Hợp Hải, Lâm Thao, Phú Thọ từng cung tiến hơn 1000 m2 đất vườn cho thôn xây chùa. Trên chính mảnh đất đó đã mọc lên ngôi chùa Sơn Thuỷ mộc mạc chân quê và rất đỗi trữ tình.

"Làng có chùa, tôi nhắm mắt cũng yên"

Năm 1941, bà Lan khi đó 28 tuổi đã theo anh trai chạy giặc từ Hải Phòng về mạn Lâm Thao – Phú Thọ. Do hoàn cảnh loạn lạc, bà và người anh trai ở lại mảnh đất này buôn bán, định cư chờ ngày đất nước giải phóng mới đi tìm người thân.

Cuối năm 1952, bà lấy ông Vũ Xuân Dinh – người cùng thôn Vu Tử. Ít bữa sau ngày cưới, ông Dinh nhập ngũ để bà một mình một bóng.

Ngày ngày, cụ Lan vẫn thăm nom những tháp, miếu trong chùa


57 năm sống với nhau, không một mụn con, hai vợ chồng chỉ xây được ngôi nhà cấp 4 tuềnh toàng. Cụ ông đã bỏ bà ra đi vào đầu năm 1998 khi cái ăn, cái mặc còn túng thiếu ở mảnh đất thuần nông này.

Ghi nhớ lời chồng trước lúc đi xa: “Bà nên hiến đất cho xã để xây chùa mới, ngôi chùa làng mình đã trải qua nắng gió hàng chục năm nay cũng sắp sập rồi. Mình không có con thì làm phước cho hàng xóm bà ạ”.

Bà Lan mang tâm nguyện của chống chia sẻ với cho các cụ ở hội người cao tuổi trong thôn. Sự việc đến tai ông bạn già Vũ Đình Mai, nguyên là Trưởng ty nông nghiệp tỉnh Thái Bình những năm 80 của thế kỷ trước.

Cảm kích tấm lòng của người bạn, ông Mai hưởng ứng: “Bà để mảnh đất cho tôi, tôi sẽ xây chùa giúp dân làng. Chùa làng mình đã xuống cấp rồi, may sao có bà dâng đất nếu không thì bà con vẫn phải thành kính đức ông, đức bà dưới mái nhà dột”.

Tấm lòng hảo tâm là thế, nhưng câu chuyện cung tiến đất của bà không hề bằng phẳng chỉ vì một nỗi: “Xã tôi vẫn nghèo quá chú ơi”. Bà Lan kể lại câu chuyện của mình trong niềm tủi cực.

Bà con chòm xóm rất hào hứng tham gia xây cất chùa mới. Quê nghèo, nhưng họ sẵn sàng công đức dăm ba ngàn. Vậy mà UBND xã vẫn dùng dằng mãi mới chấp nhận để chúng tôi xây cất ngôi chùa này.

Ông Mai đã phải chạy ngược xuôi lo đủ mọi thủ tục giấy tờ. “May sao đất (của tôi) và vốn (ông Mai) đã sẵn sàng. Nếu hai khoản này mà dính đến xã thì còn... ốm mới xong”, bà Lan kể lại.

Phận già không con

Trọn kiếp vợ chồng, ông bà Lan – Dinh chưa từng được hưởng niềm hạnh phúc được ôm ấp đứa con chung. Ở cái làng quê quanh năm tiếng gà gáy cả thôn nghe thấy này, xóm làng con cháu đông vui, xum vầy chật nhà, thế mà vẫn có những tiếng khóc buồn cho số phận.

“Cuộc sống ở làng quê hồi xưa, nhà ít con cũng 5 đứa, nhà nhiều thì 8, 9 thậm chí 10 đứa. Tôi chỉ cầu mong giời cho tôi một mụn con cũng không được. Nhiều đêm trò chuyện với ông nhà tôi, ông chỉ nói chung chung là ông ấy bị di chứng của bệnh sốt rét rừng nên mất khả năng sinh con. Tôi chỉ biết cắn răng chịu đựng, có trách thì trách cuộc chiến tranh kia đã cướp đi quyền làm mẹ của tôi”. Bà tâm sự.

Giờ cụ sống trong ngôi nhà một gian do ông Mai xây cất để cụ tiện trông nom chùa

Ngày trước, bà mà hàng xóm cũng từng xì xèo chuyện không con của ông bà: “nhà ấy ăn ở kiểu gì mà con cái cũng không có, trời bắt vạ rồi”.

Rồi chuyện nhỏ to này cũng chìm xuống và hàng xóm lại thấy thương bà hơn, người ta hiểu cái giá của thời cuộc đã bắt người phụ nữ chân chất này phải chịu đựng.

Đến khi bà cung tiến đất xây chùa, mọi người lại một phen xì xào nữa. Nhiều người bảo bà là ngu, là gàn. Nhưng cái Tâm của bà vẫn sáng trong, cho mà không hề đợi chờ cuộc sống cho lại cái gì.

"Hiến đất xây chùa là tâm nguyện của vợ chồng tôi. Không có gì ân hận", cụ bà quả quyết.


Cảm kích tấm lòng cụ Lan, ông Trịnh Minh Lượng - Trưởng thôn Vu Tử, nói: “Cụ Lan đã cung tiến 792m2 đất vườn và 272m2 đất ao (không tính vào sổ sách diện tích này), tổng số là 1068 m2 để xây dựng chùa Sơn Thuỷ. Lòng thành kính ấy, đời đời cháu con nhớ ơn.

Nhiều lúc tôi nói vui với cụ: tính theo giá thị trường hiện nay mỗi m2 đất ở chỗ này là 200.000 đồng thì giờ cụ ngồi cạnh hơn 200 triệu đồng. Có 200 triệu đồng có khi cụ thấp thỏm không biết tiêu gì, nhưng không có 200 triệu đồng, cụ vẫn sống vui, sống khoẻ”.

Trên tấm bia trùng tu này không có tên cụ Lan nhưng dân làng luôn nhớ ơn cụ

Lịch sử của làng Vu Tử trong bia trùng tu đình làng có ghi:“Làng Vu Tử xưa là một làng nhỏ và nghèo, chuyên về cày cấy, không biết buôn bán, kinh doanh. Ít người được học hành, không có người đỗ đạt cao. Tuy nghèo nhưng làng vẫn tu tạo và giữ gìn các di sản văn hóa của Tổ tiên. Làng còn đủ đền, miếu, đình chùa, chuông động, bia đá. Ngày tháng khói hương, bốn mùa cúng tế.

Năm Vĩnh Thịnh thứ 13 triều Lê (1717), làng đúc quả chuông to nhất vùng, cao hơn đầu người, tồn tại đến mãi năm 1960. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, các di tích này không còn nữa, số ngưởi hiểu biết về chúng cũng chẳng còn nhiều. Nếu không vớt vát những gì còn có được, ta sẽ mất sạch sành sanh, trước là có tội với tiền nhân, mai sau con cháu sẽ chẳng biết gì về gốc gác, cội nguồn. Chẳng còn cái gì để chúng kế tục, phát huy, bàn tính, nghĩ suy.

Nay bà Đặng Thị Lan cung tiến 790m2 đất làm nơi xây dựng. Ông Vũ Kim Bảng tìm lại được chứng tích, thần phả văn bia. Con cháu đi công tác xa gửi tiền công đức, dân làng góp công, lòng thành xây dựng lại chùa”.

Theo: Tuanvietnam.net